Tổng đài tư vấn

(08) 39 778 123

Yahoo Icon nam Linh chi

Hỗ trợ đại lý

097 861 3377

Linh chi Yahoo Icon


NẤM LINH CHI VÀ CÁC LOÀI NẤM CÓ TÁC DỤNG CHỮA BỆNH

www.linhchi.com.vn Trong thế giới thực vật, nấm chiếm một tỷ lệ không lớn, nhưng lại có giá trị chữa bệnh cao. Có 3 loại nấm: nấm thuốc, Nấm ăn và nấm độc.

Từ lâu, người ta vẫn quan tâm và sử dụng các loài nấm ăn như mộc nhĩ, nấm hương làm thực phẩm và làm thuốc; nấm thuốc như linh chi, phục linh chuyên để chữa bệnh và luôn cảnh giác với tác hại của các loài nấm độc nguy hiểm.Sau đây, xin cùng điểm qua một vài loại Nấm có tác dụng hữu hiệu với cuộc sống con người như sau:

A. NẤM THUỐC & NẤM DƯỢC LIỆU:

  1. Nấm Linh chi (Ganoderma lucidus)

Trại nấm linh chi Hoàng Gia

Thuộc họ linh chi (Ganodermataceae) tên khác là nấm trường thọ, nấm thần tiên, mọc hoang dại và được trồng. Có nhiều loài nhưng chỉ có hồng linh chi được ưa chuộng hơn cả. Thành phần của nấm linh chi gồm protid, acid amin, chất béo, đường, Saponin, polysaccharid.

Ngày trước, nấm linh chi được coi như vị thuốc đại bổ và chỉ được dùng riêng cho vua chúa - linh chi được xếp vào hàng thượng dược. Nó có tác dụng điều hòa huyết áp, giảm cholesterol, tăng cường trí nhớ, chức năng gan, kích thích thần kinh và tiêu hóa, chống ung thư, lợi tiểu, chữa huyết áp cao, huyết áp thấp, thiếu máu, mỡ máu cao, loét dạ dày, hen phế quản, đái tháo đường. Liều dùng 2-5g/ngày dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc hãm. Thuốc không gây tác dụng phụ và có thể dùng trong thời gian dài.

Nấm Linh chi đỏ đã xuất hiện rất phổ biến ở thị trường đông dược dưới nhiều dạng phong phú như nguyên tay nấm phơi khô, trà, cốm, rượu bổ, nước giải khát, viên, nang đông khô. Cụ thể là trà linh chi túi lọc gồm cao linh chi, lạc tiên, sen, vông nem, dương cam cúc; ngày uống một gói. Viên nhộng linh chi: Mỗi ngày uống hai lần, mỗi lần 1-2 viên. Viên linh chi-C có 250mg linh chi và 50mg vitamin C, mỗi ngày ngậm 6-8 viên.

  1. Trư linh (Grifola umbellata (Pers) Pilat)

Thuộc họ nấm lỗ (Polyporaceae) là loại nấm sống trên rễ cây sau sau (Liquidambar formasana Hance), có hình khối, to nhỏ không đều, hơi dẹt, cong queo, có khi phân nhánh, vỏ ngoài nhăn nheo màu đen bóng, ruột màu trắng dẻo như cao su. Nấm được thu hoạch vào mùa hè thu, cạo vỏ ngoài, rửa sạch, thái phiến, phơi khô. Dược liệu có vị ngọt, nhạt, không mùi, tính bình, có tác dụng lợi tiểu, giải nhiệt chữa phù thũng, tiểu tiện ít, đại tiện táo.

Khi dùng, lấy trư linh 12g, bạch truật 12g, phục linh 12g, trạch tả 8g, quế chi 8g, tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày uống 2-3 lần mỗi lần 4g với nước ấm. Để chữa viêm gan, vàng da, lấy trư linh, nhân trần, chi tử, phục linh, trạch tả, mỗi thứ 12g; xa tiền 20g. Sắc uống trong ngày.
Chú ý: Không dùng trư linh trong thời gian dài, thuốc sẽ hại thận và mắt. Người có bệnh thận, bệnh khớp không được dùng. Và tránh nhầm trư linh với loại nấm mọc ở gỗ thân sau sau, nấm này có độc.

  1. Phục linh (Poria cocos Wolf)

Thuộc họ nấm lỗ (Polyporaceae) là nấm mọc ký sinh trên rễ cây thông, mặt ngoài màu nâu đen, mặt cắt màu trắng gọi là bạch linh, màu hồng xám là xích linh, có rễ thông xuyên vào giữa gọi là phục thần.
Người ta thu hoạch phục linh quanh năm, tốt nhất vào mùa thu. Thành phần hóa học của phục linh gồm chất polysaccharid gọi là b-pachyman 93%, dầu béo, đường, các muối vô cơ, acid pachymic, ademin, ergosterol, leathin…

Trong y học cổ truyền, phục linh có vị ngọt nhạt, tính bình, không độc, có tác dụng bổ tỳ, làm se, lợi tiểu, chữa suy nhược, phù thũng, di mộng tinh, bụng đầy trướng, nôn mửa, tiêu chảy. Liều dùng hàng ngày: 10-20g dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:
Chữa phù thũng, bụng trướng, chân tay phù nề: Phục linh bì 10g, vỏ quít lâu năm 10g, vỏ quả cau 10g, vỏ rễ dâu 10g, vỏ gừng sống 8g. Tất cả thái mỏng, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa suy nhược cơ thể khi tiêu chảy: Phục linh, đảng sâm, bạch truật, mỗi thứ 10g; trần bì, bán hạ chế, mỗi thứ 5g; mộc hương, sa nhân, mỗi vị 4g, chích cam thảo 3g. Tất cả phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, trộn với nước gừng làm viên bằng hạt đỗ xanh. Ngày uống 4-8g.

Phục thần được dùng làm thuốc an thần, trấn tỉnh chữa thần kinh suy nhược, hay sợ hãi, mất ngủ, mệt mỏi, kém ăn theo bài thuốc sau: Phục thần, đảng sâm, hạt sen, long nhãn, đại táo, mỗi vị 10g; táo nhân (sao vàng), viễn chí, thạch xương bồ, mỗi vị 8g. Tất cả phơi khô, tán bột rây mịn, trộn với mật ong làm thành viên. Ngày dùng 12-20g.
Chú ý: Người đi tiểu quá nhiều, không được dùng phục linh.

B. NẤM ĂN:

  1. Mộc nhĩ (Auricularia polytricha (Mont) Sacc)

Thuộc họ mộc nhĩ (Auriculariaceae), tên khác là nấm tai mèo, là loài nấm giống tai người màu nâu. Nấm mọc tự nhiên ở cây gỗ mục trong rừng hoặc được trồng, thu hái vào mùa hạ, lúc tươi có chất mầm, dai, phơi khô trở nên cứng và giòn. Trong 100g mộc nhĩ có 10,6g protid, 65g glucid, 0,2g lipid, 357mg Ca, 856mg K, 56,1mg Fe và cung cấp cho cơ thể 312 calo.

Mộc nhĩ thường được dùng dưới dạng phơi khô để nấu ăn, làm nhân bánh. Về mặt y học, nó là vị thuốc từ lâu đời. Dược liệu có vị ngọt, mát, tính bình, không độc. Trong sách cổ Nam dược thần hiệu, Tuệ Tĩnh đã dùng mộc nhĩ ở cây dâu sao khô, tán bột uống mỗi lần 16g chữa băng huyết, rong kinh. Mộc nhĩ cây hòe đốt tồn tính, tán nhỏ, uống 8g với nước nóng và lúc đói để tẩy sán; mộc nhĩ và kinh giới đều 20g, sắc lấy nước ngậm và súc miệng chuyên trị các bệnh về răng.

Theo kinh nghiệm dân gian, mộc nhĩ dùng riêng rang cháy, tán bột mịn, mỗi lần uống 3-6g với nước rau muống ép đặc, ngày hai lần, chữa ngộ độc. Dùng phối hợp:
Chữa kiết lỵ: Mộc nhĩ 20g, lá dạ cẩm 10g, lá mã đề 10g, món quả chuối tiêu 10g, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.
Chữa băng huyết, rong kinh: Mộc nhĩ 100g (hấp cách thủy cho chín, phơi khô, tán bột) cây cứt lợn 50g, lá ngải cứu 30g (thái nhỏ, phơi khô, tán bột). Trộn đều hai bột, luyện với mật ong làm viên 15g. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 3 viên với nước chè nóng.

  1. Nấm hương (Lentisus edodes (Buck) Sing)

Thuộc họ nấm tán (Agaricaceae) từ lâu đã trở thành loại thực phẩm gia vị siêu hạng, được mệnh danh là “vua của các loài nấm”. Nấm hương được thu hái tự nhiên vào mùa xuân hè và được trồng trên một số loài gỗ mục. Thành phần hóa học của nấm hương gồm 36% protid, 23.5% glucid, 4% lipid, 184mg% Ca, 35mg% Fe, Các vitamin A, B3, C, PP, D, ergosterol và chất tạo mùi thơm đặc trưng của nấm là matrutakeol.
Trong y học cổ truyền, nấm hương có vị ngọt, mùi thơm, tính bình, có tác dụng bổ dưỡng cao, ích khí, sinh tinh, cầm máu, chữa suy nhược, tay chân tê dại, chảy máu chân răng. Liều dùng hàng ngày 6-8g. Đặc biệt, chất ergosterol trong nấm hương dưới tác dụng của tia cực tím trong ánh nắng mặt trời sẽ chuyển thành vitamin D2 giúp cơ thể phòng và chữa bệnh còi xương.

Theo tài liệu nước ngoài, các nhà nghiên cứu Nhật Bản cho biết có thể triệt được bệnh ung thư ở những người mới mắc và tránh được di căn sau phẫu thuật nhờ ăn nấm hương đều đặn. Ở Trung Quốc, người ta cho rằng dùng nấm hương có thể nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể, giảm béo, chữa bệnh đái tháo đường, suy nhược thần kinh, lao phổi, viêm gan.

C. NẤM ĐỘC

Nhiều loài với màu sắc thường là sặc sỡ. Thỉnh thoảng vẫn xảy ra những vụ ngộ độc do người ăn phải. Nhẹ thì đau bụng, nôn mửa, toàn thân mệt mỏi, đi ngoài nhiều lần, nặng có thể trụy tim mạch, tử vong. Do đó, cần hết sức lưu ý và tránh nhầm lẫn.

Linh Chi Việt Nam

Tin cùng loại